Previous Page  3 / 40 Next Page
Information
Show Menu
Previous Page 3 / 40 Next Page
Page Background

3

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

SỐ

17-18

, NGÀY

25/04/2019

n

LạI HOA

Với lối sốnggiảndị gầngũi, năng lực lãnhđạo

và tư duy chiến lược kiệt xuất, Đại tướng Lê

ĐứcAnhxứngđáng làmộthọc tròxuất sắc của

Chủ tịchHồ Chí Minh.

S

inh tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa

Thiên - Huế, đồng chí Lê Đức Anh tham gia

hoạt động cách mạng từ rất sớm. Là tướng

trận, ông là một trong số ít người đã trải qua 3 cuộc

chiến tranh vệ quốc từ năm 1945 - 1989. Trong

kháng chiến chống Pháp, đồng chí tham gia chiến

đấu ở chiến trường Đông Nam bộ. Kháng chiến

chống Mỹ, đồng chí có mặt ở hầu hết các mặt trận

Đông Nam bộ và Tây Nam bộ và là Tư lệnh quân

tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Dấu ấn lớn

nhất ở đồng chí Lê Đức Anh là người có tầm nhìn

sâu về chiến lược, dự đoán trước được tình hình

không để bị động.

Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Bộ Trưởng

Bộ Quốc phòng cho biết: Trong chiến tranh bảo

vệ biên giới Tây Nam, thủ trưởng của ông - Đại

tướng Lê Đức Anh, đã có dự cảm chính xác về

tình hình Campuchia. Lúc đó trên cương vị Tư

lệnh Quân khu 9, ông Lê Đức Anh không cho bộ

đội ra quân nhiều, đồng thời thành lập thêm một

sư đoàn tinh nhuệ. Ông Trà nói: “Đồng chí Lê

Đức Anh khi về thành lập Sư 30, chọn Trung đoàn

đánh tốt trong thời kỳ chống Mỹ giữ lại không cho

ra quân. Chính vì thế giữ được chất chiến đấu.

Đến khi Pôn Pốt đánh thì Sư 30 đánh được ngay,

đánh rất tốt, đánh hiệu quả. Cho nên, khi Pôn Pốt

đánh thì Quân khu 9 không bị động và đánh ngay,

giữ được biên giới. Đó là dấu ấn quan trọng của

đồng chí Lê Đức Anh”.

Khắp các chiến trường biên giới ác liệt, ở đâu

cũng thấy sự có mặt và chỉ đạo của đồng chí Lê

Đức Anh. Do sát với chiến trường, trực tiếp hướng

dẫn cách xử lý tình huống nên hạn chế thương

vong cho bộ đội. Đáng chú ý, giải phóng biên giới

Campuchia - Thái Lan, đồng chí Lê Đức Anh đã

trực tiếp ra tuyến biên giới, chặn không cho Pôn

Pốt từ Thái Lan tràn sang Campuchia, “khóa” được

biên giới từ giai đoạn 1980 -1987.

Sau khi trực tiếp tham gia chỉ huy giải phóng

miền Nam rồi giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi

nạn diệt chủng Pôn Pốt…, với công lao đóng góp

to lớn, đồng chí Lê Đức Anh được Quốc hội bầu

làm Chủ tịch nước khóa 9 nhiệm kỳ 1992 - 1997.

Trên cương vị Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức

Anh phát huy năng lực, học hỏi và khiêm tốn để

làm tròn trách nhiệm của Chủ tịch nước mà Hiến

pháp quy định. Đại tướng Lê Đức Anh tiếp tục là

một trong những người đưa đất nước ta dần thoát

khỏi khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Ông chính là

một trong những người sát cánh cùng cố Tổng Bí

thư Nguyễn Văn Linh và các nhà lãnh đạo khác

khởi xướng và chỉ đạo công cuộc đổi mới đất nước.

Từ đó, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện,

quan hệ quốc tế được mở rộng, vị thế quốc tế của

Việt Nam được nâng cao. Đại tá, Phó giáo sư, Tiến

sĩ Hồ Sơn Đài, nguyên Trưởng phòng Khoa học

quân sự, Quân Khu 7 khẳng định: Đồng chí Lê Đức

Anh là một “kiến trúc sư” của việc triển khai các

biện pháp chiến lược và chiến thuật trong lộ trình

bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ.

Ông Hồ Sơn Đài cho biết: “Đồng chí Lê Đức Anh

đã đề xuất với Bộ Chính trị và thực hiện các động

thái tiếp xúc với đồng bào người Hoa ở chợ lớn

thành phố Hồ Chí Minh và sang Bắc Kinh nhiều

lần để làm công việc chuẩn bị cho tiến trình tiến

tới hai bên bình thường hóa quan hệ năm 1991 và

sau đó như vậy với Mỹ vào năm 1995”.

Trên cương vị Chủ tịch nước, một sáng kiến

quan trọng của ông được nhân dân đón nhận, đó là

sáng kiến phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam

Anh hùng”. Theo dõi và chứng kiến Đại tướng Lê

Đức Anh trình bày trước Quốc hội về sáng kiến

phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng,

ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc

hội cho rằng: Đồng chí Lê Đức Anh xuất phát từ

quân đội và có tình cảm nồng nàn với chiến quân

đội, kể cả người dân, gia đình quân dân, đặc biệt là

những bà mẹ có nhiều con hy sinh vì độc lập của

Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế. Bởi thế, việc phong

tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là một

quyết định có ý nghĩa, làm náo nức lòng người, tạo

tình cảm, sự gắn bó giữa quân đội và nhân dân, thể

hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. “Chính sách

đó trước đây thực hiện ở mức độ, nhưng chính thức

trở thành văn bản pháp luật của Quốc hội thì có ý

nghĩa khác. Chính là vai trò của đồng chí Lê Đức

Anh trình với Quốc hội để có văn bản tầm cao mà

Quốc hội thông qua. Đấy là việc làm có ý nghĩa và

từ đó trở thành hiện tượng chính tắc về mặt pháp

lý để chúng ta thực hiện và tất cả các cấp lãnh đạo

từ trên xuống dưới, toàn nhân dân hiểu và thực

hiện, làm cho dâng trào tình cảm với Bà mẹ Việt

Nam Anh hùng” - ông Vũ Mão nhấn mạnh.

Đánh giá về Chủ tịch nước Lê Đức Anh, nguyên

Tổng Bí thư Đỗ Mười nhận định: “Đồng chí Lê

Đức Anh là một trong những nhà chính trị tầm cỡ,

nhà quân sự lớn của Đảng và Nhà nước ta. Vốn là

cán bộ chỉ huy quân đội, đã trải qua thực tế chiến

đấu gian khổ của hai cuộc kháng chiến chống thực

dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và làm nhiệm

vụ quốc tế giúp nước bạn ở Campuchia, nên ở đồng

chí Lê Đức Anh, quan điểm giai cấp rất vững vàng

và rõ ràng. Trong thời kỳ giữ cương vị Chủ tịch

nước, để góp phần ổn định và phát triển kinh tế, vai

trò Chủ tịch nước của anh Lê Đức Anh lúc này rất

quan trọng”.

99 năm tuổi đời, Chủ tịch nước, Đại tướng Lê

Đức Anh là nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa trông

rộng, quyết liệt và chí công vô tư - một nhà lãnh

đạo mang phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh.

n

Vào khoảng

năm 1965, khi ấy

tôi là chiến sĩ

thông tin của Sư

đoàn 9, được gặp

vị chỉ huy Lê Đức

Anh, Phó Tư lệnh

kiêm Tham mưu

trưởng Quân Giải

phóng Miền Nam

trong một đợt hành

quân tại địa bàn huyện Bù Đốp, tỉnh

Phước Long (cũ), nay là tỉnh Bình Phước.

Tôi ấn tượng về một vị chỉ huy có giọng

nói trầm ấm, truyền cảm và phong cách rất

gần gũi, chân tình với chiến sĩ. Thời gian

này, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông Lê

Đức Anh, đơn vị tôi tham gia đánh các trận

như: Bình Giã, Đồng Xoài, Bù Đốp… Anh

em cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9 cũng như

các đơn vị khác trên mặt trận đều rất tin

tưởng và thực hiện tuyệt đối mệnh lệnh của

Bộ chỉ huy Miền.

Tôi biết ông Lê Đức Anh là một vị tướng

tài. Ông ấy là người chỉ huy rất cương

quyết. Đánh và giữ từng tấc đất ở miền Tây

là ông ấy. Tính cách cương quyết của một

thủ trưởng như ông ấy là biểu hiện một tinh

thần chiến đấu kiên cường. Ông ấy đã hạ

lệnh là không có cãi chỗ nào hết, không có

tránh né gì hết, là đánh liền. Chính ý chí

của người lãnh đạo rất kiên cường ấy mà

những người lính chúng tôi rất khâm phục.

Đại tá CaoVăn

Quý, nguyên

Thammưu

phóTrung

đoàn 177,

Quân khu 7:

Là người chỉ

huy cao nhất của

Quân tình nguyện

Việt Nam tại Cam-

puchia - hay còn gọi là Tư lệnh Mặt trận

Bốn Bảy Chín (479) trên đất bạn Cam-

puchia, tôi nhận thấy ở vị Tư lệnh Lê Đức

Anh một phong cách chỉ huy rất sát sao

thực tế từng trận đánh. Tư lệnh Lê Đức Anh

nghiên cứu rất kỹ những thông tin trinh sát,

thông tin tình báo trên chiến trường. Tư

lệnh triển khai các phương án tác chiến rất

cụ thể, truyền đạt mệnh lệnh đến các cấp

chỉ huy rất rõ ràng... nên đó là động lực để

Trung đoàn 177 hoàn thành xuất sắc mọi

nhiệm vụ được giao.

Đại tướng Lê Đức Anh đã dành nhiều

tình cảm đối với anh em binh lính. Anh em

rất thương mến ông Lê Đức Anh. Ông gắn

bó với nhân dân, xây dựng chính quyền địa

phương. Ông chỉ đạo rất sát sao, phong

cách chỉ đạo, lãnh đạo, rồi công tác quần

chúng… của ông Lê Đức Anh được thực

hiện rất tốt, được nhân dân yêu mến.

HUY SơN ghi

DấuấnLêĐứcAnh

Đại tướng

Lê ĐứcAnh

trong lòng quân

dânNambộ

Ông NguyễnVănTiêu,

nguyên chiến sĩ quân báoMiền

(còn gọi là R):

Chủ tịch nước Lê Đức Anh thăm hỏi người dân Quảng Trị năm 1995.

ẢNH: T.C.H