Previous Page  5 / 40 Next Page
Information
Show Menu
Previous Page 5 / 40 Next Page
Page Background

5

SỐ

17-18

, NGÀY

25/04/2019

cái”, binh lực chưa nhiều, công sự

còn sơ sài, bố phòng còn sơ hở…

trong khi đó bộ đội ta còn sung sức,

hừng hực khí thế, vì vậy cần tranh

thủ thời gian, lợi dụng khai thác

những hạn chế nêu trên của địch,

thực hiện phương châm “đánh

nhanh, giải quyết nhanh”. Theo

phương châm tác chiến này, ta tập

trung ưu thế binh hỏa lực, nhằm

vào chỗ hở sườn nhất của địch,

đánh thốc thẳng vào trung tâm

Mường Thanh, tạo thế chia cắt, cô

lập, cô lập từng cứ điểm, tiêu diệt

một bộ phận quan trọng sinh lực

địch… tạo nên sự chuyển biến tiến

tới tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ

điểm. Với cách đánh này, thời gian

diễn ra chiến dịch sẽ được rút ngắn,

công tác bảo đảm sẽ thuận lợi hơn,

bộ đội đỡ mệt mỏi hơn. Hội nghị

nhất trí tiến công tập đoàn cứ điểm

Điện Biên Phủ theo phương châm

“đánh nhanh, giải quyết nhanh”.

Mọi hoạt động đều triển khai theo

phương châm này.

Tuy nhiên, tình hình tại mặt trận

Điện Biên Phủ diễn biến rất nhanh

từng ngày. Tập đoàn cứ điểm Điện

Biên Phủ không còn ở trạng thái

phòng ngự lâm thời nữa. Nếu đánh

theo phương châm “đánh nhanh,

giải quyết nhanh” thì khó mà bảo

đảm “chắc thắng”. Chính vì vậy mà

sau khi bàn bạc, trao đổi cùng

trưởng đoàn cố vấn Vi Quốc Thanh,

với tinh thần trách nhiệm trước Chủ

tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị,

trước sinh mệnh của hàng vạn cán

bộ, chiến sỹ, Đại tướng Võ Nguyên

Giáp đã đề xuất Đảng ủy, BCH

chiến dịch thay đổi phương châm,

từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh”

sang “đánh chắc, tiến chắc”. Hay

nói đúng hơn là quay trở về phương

châm đã được xác định trong Tờ

trình của Tổng Quân ủy gửi lên Bộ

Chính trị ngày 6/12/1953, trong đó

dự kiến: “Thời gian tác chiến ở

Điện Biên Phủ ước độ 45 ngày,

không kể thời gian tập trung bộ đội

và làm công tác chuẩn bị. Trận đánh

có thể được bắt đầu vào trung tuần

tháng 2 năm 1954. Dự kiến này đã

được tính toán theo phương châm

“đánh chắc, tiến chắc”.

Quyết định thay đổi phương

châm tác chiến tuy là của tập thể

Đảng ủy, BCH chiến dịch và có sự

tham khảo ý kiến của Cố vấn Trung

Quốc, nhưng nó mang đậm dấu ấn

của Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư

Đảng ủy Mặt trận Võ Nguyên Giáp.

Qua nhiều nguồn tư liệu cũng như

lời kể của một số nhân chứng -

những người từng làm việc bên

cạnh Đại tướng trong suốt thời gian

diễn ra chiến dịch thì quãng thời

gian từ sau Hội nghị Thẩm Púa cho

đến ngày 25/1, Đại tướng Võ

Nguyên Giáp đã có nhiều trăn trở

xung quanh chủ trương “đánh

nhanh, giải quyết nhanh”. Từng

ngày, từng giờ dõi theo từng động

thái ở mặt trận, nỗi lo lắng và sự

hoài nghi trong ông về yếu tố “chắc

thắng” nếu đánh theo phương châm

“đánh nhanh, giải quyết nhanh” cứ

lớn dần cùng với sự gia tăng tính

kiên cố và sức mạnh tập đoàn cứ

điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp

và sự khó khăn trong việc đưa pháo

vào và chuẩn bị công sự của bộ đội

ta. Để có được một quyết định mà

như ông nói là “quyết định khó

khăn nhất trong cuộc đời cầm

quân” của mình, Đại tướng Võ

Nguyên Giáp đã phải trải qua 11

ngày đêm “mất ăn, mất ngủ” và 1

đêm thức trắng; trải qua một “cuộc

sát hạch” trên cơ sở phân tích đánh

giá tình hình, lập luận một cách

khoa học đủ sức thuyết phục Đoàn

cố vấn, tập thể Đảng ủy và BCH

Mặt trận, để nhận được sự đồng

thuận. Điều đáng nói là dù thấy

trước những khó khăn mới từ việc

thay đổi phương châm tác chiến

nhưng rõ ràng thấu triệt lời căn dặn

của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc

lên đường ra trận, Đại tướng Võ

Nguyên Giáp đã cùng Đảng ủy,

BCH chiến dịch đã tìm ra “chiếc

chìa khóa” để có thể mở cánh cửa

tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ

được coi là bất khả xâm phạm này.

Tư tưởng “đánh chắc thắng” là

bất biến; việc lựa chọn cách đánh

sao cho phù hợp chính là sự thể

hiện “ứng vạn biến”. Đó là quy luật

của lịch sử và quyết định thay đổi

phương châm tác chiến từ “đánh

nhanh, giải quyết nhanh” sang

“đánh chắc, tiến chắc” trong chiến

dịch Điện Biên Phủ là một trong

những trường hợp như vậy.

n

n

Vũ LợI

Chảo lửa Điện Biên Phủ ngày nào

giờ đã là một thành phố trẻ đang

vươnmìnhhội nhập. Songvẫn còn

đó những chứng tích, những câu

chuyện lịch sử vẹn nguyên giá trị

nhắc nhớ các thếhệ sau trân trọng

công lao của lớp cha anh đi trước

đã ngã xuống...

T

hành phố Điện Biên Phủ, tỉnh

Điện Biên những ngày này trở

nên náo nhiệt hơn bởi dòng

người từ khắp muôn phương trở về

thăm lại chiến trường xưa. Hòa trong

dòng người tấp nập đó là những màu

xanh áo lính đã bạc theo thời gian. Họ

là những cựu chiến binh của chiến

trường Điện Biên Phủ ngày nào. Với họ,

từng tấc đất, từng chiến hào, từng lô cốt

đều thấm đẫm những kỷ niệm của một

thời hoa lửa hào hùng.

65 năm mới có dịp trở lại chiến

trường xưa, nhưng trong tâm trí cựu

chiến binh Phạm Thắng, nguyên là

chiến sĩ của Trung đoàn 102, Trung

đoàn Thủ đô, thuộc Đại đoàn 308 vẫn

nhớ như in giây phút sinh tử khi cùng 11

đồng chí trong tiểu đội vác bộc phá lên

đồi A1. Đối với thực dân Pháp, đồi A1

là “Cối xay thịt”, còn đối với ông Thắng,

đồi A1 là nơi tưởng niệm những đồng

đội của ông mãi mãi ra đi, bởi mỗi ngày

ở đó có hàng trăm chiến sĩ hy sinh dưới

pháo đạn, bommìn của quân thù. Trong

tâm trí của ông không bao giờ quên cảnh

tượng vác bộc phá đi dọc chiến hào và

vấp phải những mảnh xác người vẫn

còn vương vãi vì bom, mìn, trong đó có

cả đồng đội của mình. Tiểu đội ông khi

đó đi lên 11 người thì 9 người mãi mãi

không trở về.

Nghẹn ngào xúc động, cựu chiến

binh PhạmThắng chia sẻ: “ĐồiA1 ngày

hôm nay khác xa với đồiA1 của 65 năm

trước. 85 tuổi được trở lại chiến trường

xưa, được một lần nữa đứng trên ngọn

đồi A1, tôi thực sự cảm ơn những người

bà con của mình đã xây dựng để Điện

Biên có được ngày hôm nay. Và du

khách đến tham quan đồi A1 hãy đừng

quên tại nơi này, hàng nghìn chiến sĩ ta

đã hy sinh để có được ngày hôm nay”.

Còn ông Phạm Bá Miều, nguyên là

Tiểu đội Trưởng Tiểu đội 2, Đại đội 76,

Tiểu đoàn 938, Trung đoàn 98, Sư đoàn

316, Sư đoàn chủ công đánh cứ điểmA1

thì nhớ lại một trận đánh ác liệt nhất để

đột phá vào cứ điểm A1. “Đêm 6/5,

mình nổ bộc phá làm sập hầm, thế

nhưng địch vẫn chống trả ác liệt. Đến tối

7/5, khi bắt được tướng De Castries ra

kêu gọi binh lính đầu hàng thì lúc đó các

nơi mới kéo cờ trắng ra hàng. Nhiều

đồng chí của mình đã hy sinh. Tôi

không thể quên ngày 8/5/1954, khi

chúng tôi đi nhặt thi thể của đồng đội để

đưa về nghĩa trang A1. Đại tướng Võ

Nguyên Giáp đã giơ tay chào ly biệt rồi

dặn chúng tôi: “Các đồng chí không để

một đồng đội nào hy sinh mà không

được đưa về nghĩa trang với đồng đội””,

cựu chiến binh Phạm Bá Miều kể lại.

Nếu như trên mặt đất, bộ đội chủ lực

băng chiến hào trực tiếp đánh trả quân

địch, thì dưới các hầm ngầm có một lực

lượng vô cùng quan trọng vẫn âm thầm

vừa cầm súng chiến đấu vừa chăm sóc

vết thương cho thương binh. Đó là lực

lượng quân y đường hầm.

Ông Bùi Văn Đáp, cựu chiến binh

lực lượng quân y đường hầm ngày nào

giờ vẫn khắc sâu trong tâm trí giây phút

chữa trị cho một bệnh nhân nữ được mổ

vết thương lồng ngực chuyển sang khu

Trung thương của ông. Nhưng do bệnh

nhân khó thở, lại không còn thuốc nên

cả đêm ấy, 5 người trong kíp trực ngồi

thay nhau làm chỗ tựa cho bệnh nhân dễ

thở và động viên tinh thần, nhưng cuối

cùng vẫn không thể cứu được đồng đội.

Rồi mỗi ngày trôi qua, ông Đáp lại phải

chứng kiến những đồng đội của mình

lần lượt ra đi vì trong điều kiện chiến

tranh, không có đủ thuốc men, thiết bị

để cứu chữa, trong khi những vết

thương của thương binh quá nặng.

“Ngày nào cũng như ngày nào, chúng

tôi điều trị, khám xét, cắt lọc hoặc rửa

vết thương. Khoảng 14 giờ hằng ngày,

tôi làm danh sách chuyển thương binh

về tuyến sau. Đến 17 giờ lại nhận

thương binh ở mặt trận về và tiếp tục

chuyển thương binh cũ đi. Ước lượng

mỗi đêm như thế chuyển khoảng 100

thương binh. Khi đó, một người phải

làm việc bằng 4, bằng 5 người, thế nên

hầu hết cán bộ quân y phải thức liên tục

trong 56 ngày đêm, chỉ tranh thủ ngủ gật

được lúc nào thì ngủ”.

Đối với mỗi người con trên mảnh đất

Điện Biên, những ngày tháng 5 lịch sử

bao giờ cũng tràn đầy ý nghĩa. Và ở bất

cứ đâu trên mảnh đất này, chúng ta cũng

có thể được nghe những câu chuyện về

sự đánh đổi tuổi thanh xuân, hạnh phúc

riêng, thậm chí là máu xương cho mảnh

đất này.

Ông Nguyễn Hữu Chấp ở tổ 20,

phường Him Lam, TP. Điện Biên Phủ,

cựu chiến binh sư đoàn 312, sư đoàn

chủ công của chiến dịch Điện Biên Phủ

đánh trận mở màn Him Lam và bắt sống

tướng De Castries cho biết: “Khi vào

trận đánh, anh em không bi quan hay

dao động, sợ chết, sợ bị thương mà tinh

thần luôn hồ hởi, vui vẻ và tin tưởng”.

65 năm đã đi qua nhưng những ký

ức của các cựu chiến binh Điện Biên

Phủ vẫn vẹn nguyên như ngày nào. Họ

là những con người đã đi vào lịch sử của

dân tộc, của Điện Biên. Câu chuyện của

họ vẫn sẽ còn mãi như lời khẳng định

rằng chúng ta hướng tới tương lai,

nhưng không bao giờ quên lịch sử.

n

Để có được một quyết định mà như ông nói là “quyết định khó

khăn nhất trong cuộc đời cầm quân” của mình, Đại tướng Võ

Nguyên Giáp đã phải trải qua 11 ngày đêm“mất ăn, mất ngủ” và

1 đêm thức trắng; trải qua một “cuộc sát hạch” trên cơ sở phân

tích đánh giá tình hình, lập luậnmột cách khoa học đủ sức thuyết

phục Đoàn cố vấn, tập thể Đảng ủy và BCH Mặt trận, để nhận

được sự đồng thuận.

Nhữngkýức lửa...

Cựu chiến

binh Bùi

Văn Đáp

cùng con

gái thắp

hương cho

đồng đội tại

Nghĩa trang

liệt sĩ Quốc

gia A1.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Mường Phăng ngày 22/4/1954.

ẢNH: TƯ LIỆU