Previous Page  12 / 20 Next Page
Information
Show Menu
Previous Page 12 / 20 Next Page
Page Background

12

SỐ

34

, THỨ NĂM NGÀY

22/8/2019

KINH TẾ

ThứtrưởngBộCôngThươngTrầnQuốc

Khánhđãcónhữnggiảiđáplàmrõhơn

về cáchxácđịnhsảnphẩm, hànghóa

là sảnphẩm, hànghóa củaViệt Nam

hoặcsảnxuấttạiViệtNam.

Thưa ông, trường hợp nào thì

hàng hóa được phép thể hiện là hàng

hóa của Việt Nam?

Hàng hóa được phép thể hiện là

hàng hóa của Việt Nam trong 2 trường

hợp sau:

- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy

hoặc được sản xuất toàn bộ tại

Việt Nam.

- Hàng hóa có xuất xứ không thuần

túy hoặc không được sản xuất toàn bộ

tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn

gia công, chế biến cuối cùng tại Việt

Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của

hàng hóa.

Doanh nghiệp có thể sử dụng các

cách thể hiện khác không, như “Lắp

ráp tại Việt Nam”, “Gia công tại Việt

Nam” hay “Thiết kế bởi Việt Nam”?

Không. Tổ chức, cá nhân chỉ được

phép lựa chọn một trong các cách quy

định tại khoản 2 Điều 4 để thể hiện hàng

hóa là hàng hóa của Việt Nam. Họ có thể

lựa chọn cụm từ phù hợp nhất với quy

trình sản xuất, gia công, chế biến của họ.

Theo kinh nghiệm chung trên thế giới thì

các sản phẩm có xuất xứ thuần túy

thường dùng cụm từ “Sản phẩm của...”

mà không dùng các cụm từ như “Chế tạo

tại... “ hay “Sản xuất tại...”.

Có thể chỉ ghi nhãn bằng tiếng

nước ngoài, thí dụ như “Made in Viet

Nam” hay “Product of Viet Nam”

được không?

Không. Thông tư này áp dụng cho

hàng hóa lưu thông trên thị trường Việt

Nam nên ngôn ngữ thể hiện bắt buộc

phải là tiếng Việt. Chúng ta là người

Việt và không có nhu cầu sử dụng tiếng

nước ngoài để giao tiếp với nhau.

Tại sao trong ASEAN hàng hóa

phải đạt hàm lượng giá trị gia tăng là

40% mới được coi là đáp ứng quy tắc

xuất xứ mà tại Thông tư này, chỉ cần

hàm lượng 30% đã được coi là hàng

hóa Việt Nam, thưa ông?

Trong Hiệp định Thương mại hàng

hóa ASEAN (ATIGA) và các hiệp định

thương mại tự do (FTA) khác, hàm

lượng giá trị gia tăng được gọi “hàm

lượng giá trị khu vực” (RVC). Tên gọi

này đã thể hiện tính chất “khu vực” của

quy tắc xuất xứ, tức là cho phép cộng

gộp xuất xứ của các nước thành viên.

Ví dụ, với RVC 40% trong ASEAN

thì 1 sản phẩm có 20% giá trị của Thái

Lan, 10% của Philippines, 5% của Lào

và 5% của Việt Nam sẽ được coi là đạt

tiêu chí xuất xứ ASEAN và được cấp

Giấy chứng nhận xuất xứMẫu D. Thông

tư này quy định chặt hơn. Cụ thể, tỷ lệ

giá trị gia tăng 30% nêu tại Thông tư là

chỉ tính riêng giá trị của Việt Nam.

Với quy định như tại dự thảo Thông

tư, nhiều sản phẩm có thể đáp ứng xuất

xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng

nhận xuất xứ Mẫu D nhưng chưa chắc

đã đủ điều kiện để được coi là hàng hóa

của Việt Nam.

Tại sao lại đặt ra ngưỡng VAC là

30% mà không phải ngưỡng cao hơn,

thí dụ như 60% của Thụy Sỹ hay 50%

của Mỹ? Ngoài ra, có ý kiến cho rằng

phải bổ sung thêm các tiêu chí như

phải mang thương hiệu Việt Nam,

phải do công ty có trên 50% vốn Việt

Nam sản xuất ra... mới được coi là

hàng hóa của Việt Nam, ý kiến của

ông như thế nào?

Như Bộ Công Thương đã trình bày

trên trang chủ của họ, dự thảo Thông tư

này được xây dựng chủ yếu dựa trên các

bộ quy tắc xuất xứ hiện đang áp dụng

cho hàng xuất khẩu từ Việt Nam, trong

đó có Nghị định số 31/2018/NĐ-CP

ngày 8 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ.

Nhiều sản phẩm xuất khẩu của ta

chỉ cần đáp ứng VAC 30% là được các

nước bạn hàng công nhận là xuất xứ

Việt Nam. Đặt ra các ngưỡng cao hơn

30% hoặc bổ sung thêm điều kiện

không khó, chỉ cần thay 2 chữ số, viết

thêm vài câu là xong, nhưng nếu vậy sẽ

xuất hiện tình huống oái oăm là cả thế

giới công nhận nhưng riêng Việt Nam

lại không công nhận một sản phẩm nào

đó là sản phẩm của mình.

Nhiều người thích viện dẫn Mỹ với

Thụy Sỹ mà không biết rằng trong đàm

phán với Việt Nam, cả Mỹ, cả Nhật, cả

Thụy Sỹ đều tha thiết đề nghị ta áp

dụng quy tắc VAC 30% hay chuyển đổi

mã số hàng hóa cho tuyệt đại đa số sản

phẩm công nghiệp của họ, không ai đề

nghị 50% hay 60% cả, trừ đối với một

vài mặt hàng cực kỳ nhạy cảm như

may mặc, ô tô.

Thưa ông, với hàng hóa có xuất xứ

không thuần túy, có phải cứ đạt hàm

lượng giá trị gia tăng trên 30% là được

coi là hàng hóa của Việt Nam?

Không nhất thiết. Hàng hóa có xuất

xứ không thuần túy chỉ được coi là

hàng Việt Nam khi khâu sản xuất, chế

biến cuối cùng diễn ra tại Việt Nam và

khâu đó phải làm thay đổi cơ bản tính

chất của hàng hóa, không phải là gia

công, chế biến đơn giản như quy định

tại Điều 10 của dự thảo Thông tư.

Tại phụ lục các danh mục hàng hóa

kèm theo dự thảo Thông tư, Bộ Công

Thương liệt kê các mặt hàng, trong đó

hầu hết phải đạt tỷ lệ hàm lượng giá trị

gia tăng nội địa 30% (một số ít sản

phẩm 40%). Như vậy ngoài việc phải

đảm bảo công đoạn cuối cùng không

phải là công đoạn đơn giản, thì đây là

tỷ lệ tối thiểu giá trị gia tăng nội địa của

sản phẩm nếu muốn được công nhận,

dán mác hàng sản xuất tại Việt Nam?

Đối với một mặt hàng cụ thể, nếu

tiêu chí xác định “hàng hóa của Việt

Nam” là VAC 30% thì 30% là ngưỡng

thấp nhất mà VAC của hàng hóa đó

phải đạt được để được coi là hàng hóa

của Việt Nam.

Thực hiện quy định của Thông tư

có làm doanh nghiệp phát sinh thêm

chi phí gì không?

Thông tư sẽ không làm phát sinh

thêm chi phí cho doanh nghiệp bởi ghi

nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ

trên nhãn hàng hóa đã từ lâu là yêu cầu

bắt buộc theo quy định của Nghị định

43/2017/NĐ-CP. Thông tư chỉ giúp các

tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện

đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại

bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi

phạm thông tin về nước xuất xứ.

Với Thông tư này, các doanh nghiệp

chân chính sẽ không phải đối diện với

nguy cơ cáo buộc “gian lận xuất xứ”,

tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín

với người tiêu dùng. Ngoài ra, kết hợp

với việc thực thi nghiêm túc Nghị định

43 tại cửa khẩu, Thông tư cũng sẽ giúp

loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu

nhập nhèm “đội lốt” hàng Việt Nam như

đã rải rác xảy ra trong thời gian qua.

Các trường hợp vi phạm quy định

của Thông tư sẽ áp dụng chế tài như

thế nào?

Theo quy định tại dự thảo, Tổng cục

Quản lý thị trường là đơn vị chủ trì,

phối hợp với các đơn vị liên quan của

Bộ Công Thương và các cơ quan có

thẩm quyền khác tổ chức thực hiện

việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi

phạm trong quá trình thực thi Thông tư

này. Trường hợp phát hiện vi phạm,

Tổng cục Quản lý thị trường và các cơ

quan có thẩm quyền khác sẽ tùy theo

mức độ vi phạm để đưa ra chế tài xử lý

phù hợp với quy định của pháp luật.

Xin cảm ơn ông!

ÁNH PHươNG

(lược thuật)

ThếnàolàhànghóacủaViệtNam?

Hàng giả “khoác áo” Việt Nam.

ẢNH: P.V

Vietnam Airlines đã đón nhận máy bay

Boeing 787-10 Dreamliner mang số hiệu

VN-A879 tại sân bay quốc tế Nội Bài. Đây

là chiếc đầu tiên trong tổng số 8 chiếc Boe-

ing 787-10 được bàn giao dần cho Viet-

namAirlines từ nay đến cuối năm 2020. Sự

kiện đánh dấu bước tiến mới của Vietnam

Airlines trong chiến lược phát triển đội máy

bay thân rộng hiện đại.

Có kích thước lớn nhất trong gia đình

máy bay Boeing 787, Boeing 787-10 là loại

máy bay hiện đại nhất và có kích thước lớn

nhất được khai thác tại Việt Nam hiện nay.

Với chiều dài trên 68m, gồm 24 ghế hạng

Thương gia và 343 ghế hạng Phổ Thông,

Boeing 787-10 chở được nhiều hành

khách, hàng hóa hơn 15% so với Boeing

787-9. Máy bay có chi phí vận hành trên

mỗi ghế ngồi tối ưu, giúp tạo ra ưu thế

cạnh tranh vượt trội cho Vietnam Airlines.

Boeing 787-10 tiếp tục kế thừa nhiều ưu

điểm vượt trội của Boeing 787-9 như

không gian rộng rãi, ghế ngồi thoải mái, hệ

thống giải trí hiện đại, ánh sáng đèn LED,

độ ẩm không khí và áp suất đem lại cảm

giác dễ chịu cho hành khách. Chiếc máy

bay thế hệ mới còn đặc biệt thân thiện với

môi trường nhờ tích hợp công nghệ tiên

tiến giúp giảm 25% nhiên liệu tính trên mỗi

ghế và khí thải so với các dòng máy bay

thế hệ trước. Vietnam Airlines hiện là 1

trong 5 hãng hàng không tại châu Á khai

thác đồng thời cả hai dòng máy bay hiện

đại nhất Boeing 787-9 và Boeing 787-10.

H.L

VietnamAirlines

đónnhậnmáy

bayBoeing

787-10đầutiên