Previous Page  2 / 36 Next Page
Information
Show Menu
Previous Page 2 / 36 Next Page
Page Background

2

SỐ

35+36

, THỨ NĂM NGÀY

29/8/2019

74 NĂM QUỐC KHÁNH (2/9/1945 - 2/9/2019)

V

ới Hồ Chí Minh, “Quê hương

nghĩa trọng tình cao” luôn canh

cánh trong tim. Theo thống kê

chưa đầy đủ, từ năm 1930 đến trước lúc

đi vào cõi vĩnh hằng, Bác Hồ có 9 bài

báo, 31 bức thư, 10 bài nói chuyện, 3

bức điện, 2 lần về thăm, 1 lời đề tựa nói

đến quê hương Nghệ An hoặc trực tiếp

trò chuyện thân tình với nhân dân, cán

bộ Nghệ An. Trong số đó, Bác dành cho

quê hương Nam Đàn, quê hương Kim

Liên 5 bức thư, 1 bức điện, 1 bài nói

chuyện, 1 bài báo.

Ngày 17/2/1949, Bác có thư gửi Đội

lão quân huyện Nam Đàn ngay sau khi

biết tin Đội lão quân vừa được thành

lập. Trong thư, Bác đề nghị Đội lão

quân của huyện đôn đốc “ba điểm

chính” là quân sự, kinh tế, văn hoá. Bác

viết: “Nói tóm lại: Nhiệm vụ chính của

Đội lão quân là làm cho phong trào thi

đua ái quốc sôi nổi, rộng khắp, thiết

thực, bền bỉ để làm cho giai đoạn cầm

cự mau thắng lợi và để chuẩn bị đầy đủ

cho cuộc tổng phản công”.

Hai tháng sau khi gửi bức thư kể trên,

tháng 4/1949, Bác tự tay đánh máy bức

thư gửi cho 2 ông Hoàng Phan Kính (là

cậu) và Trần Lê Hữu (là dượng của Bác).

Mở đầu bức thư là những dòng cảm

động, chân tình: “Tôi rất cảm ơn Cậu và

Dượng đã gửi thư cho tôi, tôi chưa về

được, không phải vì tôi vô tình với quê

hương, nhưng vì lẽ này: Trong lúc giặc

Pháp đang giày xéo trên đất nước ta, thì

phận sự của mỗi người dân Việt Nam là

“vì nước quên nhà, vì công quên tư”.

Trong bức thư đó, cùng với những tình

cảm họ tộc, gia đình đằm thắm, Bác

nhắc nhiều đến trách nhiệm của mỗi

người Việt Nam đối với Tổ quốc. Người

đề nghị: “Tôi rất mong Cậu và Dượng

cùng các cụ phụ lão, các vị thân hào,

thân sĩ thường giúp đỡ tôi và Chính phủ

bằng cách gửi những phê bình, sáng kiến

và đề nghị. Tôi lại mong Cậu, Dượng

cùng các cụ, các vị đôn đốc, giúp đỡ

đồng bào địa phương xung phong thi

đua ái quốc, làm cho Nam Đàn thành

một huyện kiểu mẫu, Nghệ An thành

một tỉnh kiểu mẫu trong mọi công việc

kháng chiến và kiến quốc”. Dưới thư,

Người ký tên “Cháu Hồ Chí Minh”.

Có một bức điện, giờ đã trở nên bất

hủ, rưng rưng tình nhà, chứa chan nghĩa

nước. Ấy là bức điện Bác gửi họ Nguyễn

Sinh của Bác ngày 9/11/1950 khi Bác

nhận được tin Anh Cả Nguyễn Sinh

Khiêm qua đời. Đó là những tháng ngày

Người đang cùng bộ tham mưu của

mình dồn sức cho Chiến dịch Biên giới:

“Nghe tinAnh Cả mất, lòng tôi rất buồn

rầu, vì việc nước nặng nhiều, đường sá

xa cách, lúc Anh đau yếu tôi không thể

trông nom, lúc Anh tạ thế, tôi không thể

lo liệu. Than ôi! Tôi chịu tội bất đễ trước

linh hồn Anh và xin bà con nguyên

lượng cho một người con đã hy sinh tình

nhà vì phải lo việc nước”. Nội dung bức

điện chỉ có 68 chữ, ý tứ, tình cảm, nỗi

tiếc thương day dứt, lời cho người đã

khuất, lời với người đang sống, tất cả

thật hàm súc, không thể viết ngắn hơn,

cũng không cần phải nhiều lời hơn. Theo

chúng tôi, đây cũng là một áng bi hùng

văn, là một kiệt tác của Bác Hồ mà hình

như chúng ta chưa quan tâm nghiên cứu

đúng mức.

Với quê hương xã Nam Liên (nay là

xã Kim Liên), Bác Hồ có 2 lần về thăm,

lần thứ nhất ngày 16/6/1957, lần thứ hai

ngày 9/12/1961. Lần thăm quê thứ hai

tại sân vận động xã Nam Liên, Bác nói

chuyện với đồng bào, cán bộ của làng,

của xã, của huyện. Đầu tiên, Bác khen

ba điều tiến bộ của Nam Liên:

“1. Lần trước Bác về, “đèn nhà ai

rạng nhà nấy”, niêu nhà ai nhà ấy dùng,

làm ăn lẻ tẻ. Nay làng đã tổ chức hợp tác

xã, đồng bào cùng nhau đoàn kết, luôn

luôn giúp đỡ lẫn nhau. Đó là một thay

đổi lớn.

2. Lần trước Bác về, chưa thấy có

mấy trường này, mà nay đã có cho các

cháu trong làng và các làng xung quanh

đến học, thành một trung tâm nho nhỏ

về văn hoá. Thế là văn hoá tiến bộ.

3. Sự có mặt của các chú bộ đội, dân

quân tự vệ hàng ngũ chỉnh tề ở đây cũng

chứng tỏ lực lượng quốc phòng của ta

tiến bộ...”.

Tiếp đó Bác căn dặn mấy điều: “phải

củng cố hợp tác xã cho tốt”, “phải lao

động nhiều”, phải thực hành “kỹ thuật

canh tác mới”; Bác cũng thẳng thắn phê

bình: “xã viên thiếu tinh thần làm chủ”,

“ban quản trị còn quan liêu”. Bác yêu

cầu làng, xã phải “xây dựng đời sống

ngày càng no ấm lên, tức là xây dựng

chủ nghĩa xã hội”. Bác không quên lưu

ý: “Bác nghe nói ở đây có một, hai gia

đình xin ra ngoài hợp tác xã vì thiếu

sức”, “hiện nay cả xã Nam Liên vẫn còn

33 người mù chữ”, “các cháu đau mắt

hột nhiều, có đúng không?”. Bác căn dặn

cán bộ, đảng viên: “Xã ta có hơn 230

đảng viên, đoàn viên, phải gương mẫu

trong mọi công việc, trong tăng gia sản

xuất, trong học tập. Nên như thế, mà

phải như thế. Nếu đảng viên không

gương mẫu thì không xứng đáng là đảng

viên. Đoàn viên cũng thế. Đảng viên,

đoàn viên phải giúp đỡ đồng bào tiến

bộ”. Bác nhấn mạnh: “Làm đúng những

điều Bác dặn, là làm cho Nam Liên

thành một xã gương mẫu, tức là các cô,

các chú đã góp phần vào công việc xây

dựng đời sống mới, xây dựng chủ nghĩa

xã hội”... “Cuối cùng, Bác chúc các cụ,

các cháu, các cô, các chú và toàn thể

đồng bào luôn cố gắng và tiến bộ. Vì

Bác đến đây, nên nói đến Nam Liên thôi.

Nhưng các xã khác, cả huyện Nam Đàn

cũng như thế”.

Bác gửi về xã nhà 3 bức thư. Bức thứ

nhất, ngày 19/12/1958, Bác kính gửi các

cụ “phụ lão diệt dốt” khi biết tin xã nhà

đã thanh toán nạn mù chữ và cảm ơn các

cụ trong công tác bình dân học vụ. Một

bức thư khác, ngày 13/2/1962, Bác gửi

cho đồng bào, cán bộ xã Nam Liên phúc

đáp Thư chúc Tết của xã. Trong thư, Bác

biểu dương mấy nỗ lực và tiến bộ của xã:

“Trồng trọt vượt diện tích, bỏ được thói

cấy chay”... “Đảng viên và đoàn viên

thanh niên làm gương mẫu tăng thêm

ngày công lao động và năng suất lao

động”. Bác “nêu mấy điểm để đồng bào

và cán bộ chú ý”, bao gồm: “đoàn kết

yêu thương như người trong một nhà...

Tư tưởng bảo thủ là những sợi dây cột

chân, cột tay người ta, phải vứt nó đi.

Muốn tiến bộ phải có tinh thần mạnh

dạn, dám nghĩ, dám làm”.

Ngày 15/3/1967, tức là hơn 1 năm

trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Bác gửi

thư cho các cháu học sinh xã Nam Liên.

Bức thư ngắn gọn mà tràn ngập tình cảm

yêu thương của Bác: “Bác đã nhận được

thư của các cháu, Bác rất vui mừng. Các

cháu học sinh đã cố gắng thi đua học tập

tốt, lao động tốt, góp phần xây dựng quê

hương chống Mỹ, cứu nước. Bác hoan

nghênh đồng bào, cấp ủy Đảng, chính

quyền, các thầy giáo, cô giáo xã Nam

Liên đã chăm lo đến việc dạy và học và

đảm bảo tốt phòng không an toàn cho

các thầy giáo, cô giáo và các cháu. Bác

hôn các cháu! Bác Hồ”.

Có một xã ở Nam Đàn vinh dự, tự

hào được Bác Hồ gọi là “Xã kiểu mẫu”

trong bài viết cùng tên đăng trên Báo

Nhân Dân ngày 21/6/1955. Đó là xã

Nam Thượng. Thông tin về xã vùng núi

khó khăn nhất của huyện Nam Đàn đến

với Bác khá đầy đủ và chi tiết. Bác viết:

“Sau trận lụt tháng 9 năm 1954, xã ấy

thiệt hại rất nặng. Tiếp đến nạn đói. Song

nhờ cán bộ làm đúng chính sách của

Đảng và Chính phủ, khéo lãnh đạo nhân

BácHồ

với

“quêhương

n

PGS.TS

NGUYễN THế Kỷ

(1)

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi động, phong phú, nhiều hy sinh, gian khổ của mình, Chủ tịch Hồ

Chí Minh chỉ có 2 lần về thăm quê hương. Toàn bộ tâm trí, sức lực và cả cuộc đời cao đẹp của Người, Người

hiến dâng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, đưa đất nước đi lên

chủ nghĩa xã hội. Dẫu ở đâu, làm gì, trong hoàn cảnh nào, quê hương Nghệ An, quê hương Nam Đàn luôn

tha thiết, canh cánh và đau đáu trong tim Bác.

“Bác đã nhận được thư

của các cháu, Bác rất vui

mừng. Các cháu học sinh

đã cố gắng thi đua học tập

tốt, lao động tốt, góp phần

xây dựng quê hương chống

Mỹ, cứu nước. Bác hoan

nghênh đồng bào, cấp uỷ

Đảng, chính quyền, các

thầy giáo, cô giáo xã Nam

Liên đã chăm lo đến việc

dạy và học và đảm bảo tốt

phòng không an toàn cho

các thầy giáo, cô giáo và

các cháu. Bác hôn các

cháu! Bác Hồ”.

(Thư của Bác gửi các cháu

học sinh xã Nam Liên

ngày 15/3/1967)

Bác Hồ với đồng bào Nghệ An, 8/12/1961.

ẢNH TƯ LIỆU