Previous Page  4 / 20 Next Page
Information
Show Menu
Previous Page 4 / 20 Next Page
Page Background

4

SỐ

42

, THỨ NĂM NGÀY

17/10/2019

PHÓNG SỰ

n

Vũ LợI

Nhiềunét vănhóa cổ của cộng đồng

ngườiTháingànhTháiđenởvùngđất

MườngThen(MườngThanh-Mường

Trời) đang dần bị mai một. Những

ngườicondântộcThái,nghệnhânưu

tú đang thầm lặng lưu giữ, bảo tồn

nhữngnétvănhóađóđểtraotruyền

chothếhệmai sau.

20 nămnghiên cứu, sưu

tầmvăn hóaThái đen

Từ trung tâmTP. Điện Biên Phủ vượt

hàng chục km ngược Quốc lộ 279 rồi

men theo cung đường liên xã hướng đi

xã Pa Thơm, chúng tôi đến gặp anh

Tòng Văn Hân (sinh năm 1972), người

dân tộc Thái đen ở bản Liếng, xã Noong

Luống, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

trong một buổi chiều muộn. Gần 20 năm

qua, anh nghiên cứu, sưu tầm văn hóa

ngành Thái đen, xuất bản thành sách với

mong muốn thế hệ mai sau sẽ có những

tài liệu chân thực nhất về những nét văn

hóa đặc sắc của dân tộc mình.

Bước lên cầu thang phía đầu hồi

của căn nhà sàn, ấn tượng đầu tiên in

vào tâm trí chúng tôi là hình ảnh

người đàn ông trung niên trong bộ

trang phục truyền thống Thái đen mải

miết làm việc bên chiếc bàn gỗ nhỏ

nhìn thẳng ra ngọn núi Pu Khàu Lanh.

Xung quanh anh, dưới nền sàn gỗ, trên

bàn làm việc là những chồng sách, tập

bản thảo và nguồn tài liệu quý viết về

phong tục, tập quán, lễ hội, tri thức

dân gian trong quá trình định cư, lập

bản mường của cộng đồng dân tộc

Thái đen. Anh Hân cho biết, anh đang

dồn tâm trí vào việc đọc, dịch, ghi

chép lại nội dung cuốn sách “Lời cúng

tổ tiên của người Thái đen” viết bằng

chữ Thái cổ trên giấy dó mà ông nội

anh để lại.

Kể lại những tháng ngày mới bắt

tay vào công việc sưu tầm, nghiên

cứu, tìm hiểu phong tục, tập quán, nét

văn hóa dân gian của cộng đồng dân

tộc Thái đen từ hồi còn thanh niên,

anh cho biết đó như một cái duyên vì

ông nội anh vốn là một thầy mo của

bản làng, truyền dạy cho anh nhiều

kiến thức về các nghi thức của dân tộc

Thái. Càng đi sâu vào tìm hiểu, anh

càng nhận ra kho tàng văn hóa ngành

Thái đen bao la, đồ sộ và độc đáo,

mang tính đặc trưng, nhận diện rất

riêng so với các dân tộc khác. Vì lẽ đó,

anh “nghiện” công việc này từ khi nào

không hay. Tuy nhiên thời điểm đó,

anh mới chỉ viết bài gửi đăng báo và

các tạp chí.

Đến năm 2003, công việc nghiên

cứu mới bắt đầu đi vào chuyên sâu.

Ban đầu, anh chọn loại hình thực hành

tín ngưỡng của đồng bào Thái đen để

sưu tầm, nghiên cứu. Năm 2009, khi

trở thành hội viên Hội Văn nghệ dân

gian Việt Nam, tên tuổi và tài năng của

anh bắt đầu được khẳng định trong lĩnh

vực nghiên cứu văn hóa dân tộc.

Với vốn kiến thức phong phú về

văn hóa dân tộc Thái đen, anh Hân

khiến nhiều người bất ngờ về ý nghĩa

của quả còn, một vật được dùng phổ

biến trong trò chơi “tung còn” truyền

thống của đồng bào Thái Tây Bắc. Anh

cho biết, quả còn cũng có quá trình

hình thành, phát triển, mang tâm hồn,

tính cách và chứa đựng thông điệp tự

sự, tình cảm của chủ thể cầm nắm nó

trong mùa lễ hội. Quả còn còn là “bảo

chứng tình yêu” trong đám cưới, là

“vật thiêng” trong trong lễ tục vòng đời

của người Thái đen. Năm 2012, anh đã

xuất bản công trình “Quả còn của

người Thái đen ở Mường Thanh”, đánh

dấu sự thành công ban đầu trên con

đường nghiên cứu, sưu tầm văn hóa

dân tộc.

Tiếp nối thành công, anh Hân cho

“ra lò” hai công trình sưu tầm, nghiên

cứu gồm “Văn hóa ẩm thực của người

Thái đen ở Điện Biên” (xuất bản năm

2012), “Văn hóa Chéo của người Thái

đen ở Mường Thanh” (xuất bản năm

2014). Nhiều gia đình làm du lịch cộng

đồng ở các bản văn hóa trên địa bàn

tỉnh đã “săn tìm” hai công trình này để

làm cẩm nang chế biến những món ăn

dân tộc thu hút khách du lịch.

Sau gần 20 năm làm công tác sưu

tầm, nghiên cứu văn hóa Thái đen, anh

Hân đã rong ruổi khắp các nẻo đường

đến từng bản làng có người Thái đen

sinh sống; Xuất bản 12 công trình sưu

tầm, nghiên cứu về văn hóa cộng đồng

dân tộc Thái đen. Nguồn sách này đã

làm sống dậy phần nào kho tàng văn

hóa truyền thống của cộng đồng dân

tộc Thái đen ở Điện Biên nói riêng,

Tây Bắc nói chung.

Anh Hân cho hay: Để tiếp cận, sưu

tầm, nghiên cứu văn hóa Thái đòi hỏi

phải đi nhiều nơi, tìm đến các nghệ

nhân, người già đang nắm giữ tri thức

văn hóa dân gian ở khắp các bản làng.

Mỗi chuyến đi có khi mất cả tuần,

nhiều chuyến đi phải về tay không vì

không gặp được chủ thể. Theo thời

gian, mỗi lễ hội, nghi thức bị mai một

nhiều, để phục dựng thành một chỉnh

thể thống nhất phải ghi chép lại lời kể,

sự hồi cố của nhiều chủ thể, sau đó

tổng hợp, so sánh, gạn lọc thông tin

trước khi viết thành sách. Cái khó nữa

là việc chuyển tải ngôn ngữ Thái sang

tiếng Kinh, nếu không am hiểu về ngôn

ngữ học, “tính hay” nguyên bản của

ngôn ngữ Thái sẽ giảm đi đáng kể.

Dànhmột đời cho văn hóa

dân tộcThái

Dành hơn nửa cuộc đời để sưu tầm

chữ Thái cổ và những nét đặc sắc trong

văn hóa của cộng đồng dân tộc Thái, bà

Lương Thị Đại ở xã Noong Luống,

huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên là nghệ

nhân đầu tiên của tỉnh được Chủ tịch

nước trao tặng danh hiệu Nghệ nhân di

sản văn hóa phi vật thể bởi những cống

hiến của bà trong việc gìn giữ và phát

huy di sản văn hóa dân tộc.

Ngày ngày, bà miệt mài đọc, dịch,

ghi chép lại những tài liệu chữ Thái cổ

bên chiếc bàn nhỏ trước hiên nhà sàn.

Những tập giấy dó nhàu nhĩ, sờn mòn,

bạc màu theo năm tháng khiến những

dòng chữ nhòe đi, khó đọc. Đôi mắt

của lão nghệ nhân nhiều khi phải mở

căng mới có thể đọc được.

Nghệ nhân ưu tú (NNƯT) Lương

Thị Đại cho biết: “Chúng tôi quan niệm

chữ Thái cổ là chìa khóa để mở những

vốn quý văn hóa của dân tộc. Nhờ

người Thái có chữ nên chúng tôi gìn

giữ được rất nhiều tư liệu quý của cha

ông. Nếu mình không thu thập, gìn giữ

cho con cháu mai sau thì sẽ mất hết”.

Hơn thế kỷ qua, hễ nghe ở bản làng

nào có những bản chữ Thái cổ, có

người còn biết những nghi lễ của tổ

tiên xa xưa là bà Đại tìm đến với hành

trang là giấy, bút, máy ghi âm, máy

ảnh. Tư liệu mà bà thu thập là các lễ

hội cổ truyền, các tác phẩm văn học cổ,

các bản chữ cổ, những phong tục, tập

quán sinh sống của người Thái đã và

đang dần mất đi.

Từ năm 1963, khi đang công tác ở

Phòng sưu tầm văn hóa của Ty Văn

hóa Lai Châu cũ cho đến nay, bà Đại

đã giữ lại được hàng ngàn sản phẩm

văn hóa dân gian độc đáo của người

Thái, cho xuất bản gần 10 đầu sách

viết về phong tục tập quán và tác

phẩm văn học cổ dân tộc Thái nổi

tiếng, như: “Tang lễ người Thái”;

“Tạo Sông Ca, nàng Si Cáy”, “Lời ca

trong lễ hội xên bản, xên mường của

người Thái”, “Xên phắn bẻ”…

Với những cống hiến đó, năm 2015,

NNƯT Lương Thị Đại được Chủ tịch

nước trao tặng danh hiệu NNƯT loại

hình tiếng nói, chữ viết, tập quán xã hội

và tín ngưỡng đầu tiên của tỉnh Điện

Biên. Đầu năm 2017, bà được tặng

Giải thưởng Nhà nước cho 3 tác phẩm

sách quan trọng.

Bà Đại chia sẻ, một vài năm tới sẽ

cho ra lò những đầu sách có sức nặng

khác là “Chuyện kể bản mường” (Quán

Tố Mướng) và “Lịch vạn niên” (Sổ

Chóng Bang). Đây là 2 tác phẩm được

nghiên cứu, dịch thuật dựa trên cơ sở

những bản gốc cổ, mà ông nội bà - một

thầy mo, đã gìn giữ và truyền lại cho

bà trước lúc mất. Nghiên cứu những

nét đặc sắc của ngành Thái trắng ở

Mường Lay về 2 loại hình hát Then và

Kim Pang Then, bà cho biết đã viết

được tài liệu hơn 1.000 trang và gửi

cho Hội văn học dân gian Việt Nam.

Với NNƯT Lương Thị Đại, mỗi

một cuốn sách, một công trình được

hoàn thành thì “cái nợ” với nghề, với

bạn bè, đồng nghiệp, người thân mới

phần nào nhẹ hơn.

n

Nhữngngườinặnglòng

với vănhóa

Tháiđen

“Sức khỏe của tôi có hạn, trong khi những ghi chép văn

hóa dân tộc vẫn còn tiềm ẩn rất nhiều trong đời sống.

Tôi mong muốn thế hệ trẻ cố gắng quan tâm và tiếp tục

nghiên cứu, sưu tầm chữ Thái cổ. Đó là những vốn quý

của cha ông bao đời tiếp nối nhau lưu lại, nếu mất đi thì

không bao giờ lấy lại được”.

Nghệ nhân ưu tú Lương Thị Đại

“Mình quan niệm, cứ viết được một cuốn

sách là đã góp phần phục dựng lại được

một vốn cổ, quảng bá nét đẹp, tinh túy của

văn hóa dân tộc Thái đen đến mọi người,

mọi miền”.

Anh Tòng Văn Hân