Previous Page  2 / 20 Next Page
Information
Show Menu
Previous Page 2 / 20 Next Page
Page Background

2

SỐ

43

, THỨ NĂM NGÀY

24/10/2019

VẤN ĐỀ-SỰ KIỆN

Tổng biên tập:

ĐẶNG QUANG THƯƠNG

Phó Tổng biên tập:

LÊ NHƯ

GIANG TRUNG SƠN

Thư ký tòa soạn:

Minh Huệ

Mỹ thuật:

Hoàng Minh

-

Đồng Toàn

Kỹ thuật chế bản:

Quý Hoài

Tòa soạn:

35 Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội

. Tel:

024-3978.5691

Phát hành Quảng cáo

: 024-3978.5697

Giấy phép xuất bản số

265/GP-BTTTT ngày 03/9/2014.

In tại:

Công ty TNHH MTV In Quân đội I

n

VăN HảI - PHươNG THOA

Ngày 23/10, Quốc hội dành cả ngày

thảoluậntạihộitrườngvềmộtsốnội

dungcòncóýkiếnkhácnhaucủaDự

ánBộluật laođộng(sửađổi).

Đa phần không đồng tình

tăng giờ làm thêm

Nhiều đại biểu cho rằng, không nên

mở rộng khung thỏa thuận thời giờ làm

thêm vì giảm giờ làm đã và đang là xu

hướng tiến bộ trên thế giới để bảo đảm

sức khỏe và an toàn cho người lao động,

nhất là trong bối cảnh công nghệ ngày

càng phát triển và tay nghề ngày càng

cao. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng,

nước ta vừa thoát khỏi ngưỡng nghèo,

năng suất lao động thấp nhất khu vực,

nếu giảm giờ làm sẽ khiến sức cạnh

tranh quốc gia giảm, gây trở ngại cho

mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Đại biểu

Vũ Tiến Lộc, đoàn Thái Bình đề xuất giữ

nguyên quy định hiện nay về giờ làm

việc bình thường, khu vực hành chính 40

giờ/tuần, khu vực doanh nghiệp 48

giờ/tuần; còn giờ làm thêm tối đa tăng

lên 400 giờ/năm thay vì 300 giờ như

hiện nay, như trong phương án của dự

thảo luật. “Có ý kiến lập luận rằng giảm

thời gian làm việc tại doanh nghiệp sẽ

đảm bảo công bằng với khu vực nhà

nước, nghe qua có vẻ có lý và mang ý

nghĩa nhân văn. Tuy nhiên suy ngẫm kỹ

sẽ thấy không thoả đáng, vì hai khu vực

này đang không được đặt trên cùng một

mặt bằng thu nhập và tiền lương. Chúng

ta đều biết hiện tại tiền lương tối thiểu tại

khu vực doanh nghiệp tại Hà Nội đã là

gần 4,2 triệu đồng/tháng. Trong khi đó

tiền lương cơ sở tại khu vực nhà nước

chỉ ở mức chưa đầy 1,5 triệu đồng/tháng

và tăng rất chậm. Vì vậy, rút ngắn thời

gian làm việc của doanh nghiệp cùng

mức của khu vực nhà nước là một yêu

cầu có phần khập khiễng trong bối cảnh

hiện nay”, đại biểu Vũ Tiến Lộc lập luận.

Không đồng tình với quan điểm

này, đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm,

đoàn TP.HCM cho rằng, không nên

tiếp cận theo hướng tăng giờ làm thêm

là hợp lý, nhân văn và tự nguyện, mà

cần tiếp cận ở khía cạnh vì sao người

lao động buộc phải làm thêm. Đại biểu

Nguyễn Thị Quyết Tâm đã bật khóc

khi nói về nỗi khổ của nhiều công nhân

khi phải làm thêm giờ để trang trải

cuộc sống do thu nhập hiện nay còn

thấp. Bà Tâm nhấn mạnh: “Người công

nhân không muốn làm thêm giờ, dù

trên thực tế họ phải làm vì tiền lương

của công nhân không đủ để trang trải

cuộc sống. Chúng ta hãy nhìn vào thực

tế của người công nhân, nhìn vào dáng

vẻ tâm thế của người công nhân khi

đến làm việc. Nhìn vào cuộc sống của

họ và những đứa trẻ mà cha mẹ phải

gửi về quê. Có người cha mẹ nào muốn

xa con mình hay không? Thậm chí 1 -

2 năm không được về thăm con…”.

Cùng quan điểm này, đại biểu

Nguyễn Thiện Nhân, đoàn TP.HCM

cho rằng, muốn tăng năng suất thì phải

đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết

bị hiện đại và nâng cao kỹ năng quản

trị doanh nghiệp, chứ không phải là

tăng giờ lao động. Điểm lại quá trình

đấu tranh giảm giờ làm trên thế giới và

đưa ra những kết quả nghiên cứu cho

thấy, nếu làm việc từ 40 giờ/tuần trở

lên thì năng suất lao động của cả tháng

không tăng, thậm chí là giảm và người

lao động sẽ khó đảm bảo hạnh phúc gia

đình, đại biểu Nguyễn Thiện Nhân

khẳng định, xu hướng trên thế giới đã

từ bỏ hình thức tăng giờ làm thêm từ

133 năm trước.

Cũng về vấn đề này, đại biểu Bùi

Văn Phương, đoàn Ninh Bình khẳng

định, tăng giờ làm thêm và tăng trưởng

kinh tế dựa trên sự khai thác kiệt sức

người lao động là đi ngược lại sự tiến

bộ của xã hội.

Một số ý kiến cũng cho rằng, thời

gian làm việc tại khu vực doanh nghiệp

48 giờ/tuần cộng với 300 giờ làm

thêm/năm hiện nay, thì tổng quỹ thời

gian làm việc của người lao động nước

ta đã là 2.620 giờ mỗi năm, cao hơn so

với tại Trung Quốc và Hàn Quốc. Nếu

tăng lên 400 giờ làm thêm/năm như

phương án trong dự thảo luật thì tổng

quỹ thời gian làm việc của người lao

động còn cao hơn. Trong khi đó, việc

tăng thời giờ làm thêm trong điều kiện

công tác thanh tra, kiểm tra, chế tài xử

lý vi phạm còn hạn chế sẽ có thể dẫn

đến tình trạng doanh nghiệp lợi dụng

thời giờ làm thêm, khai thác tối đa sức

lao động, hậu quả là người lao động sẽ

cạn kiệt sức lao động sớm hơn so với

tuổi lao động.

Tăng tuổi nghỉ hưu:

Quốc hội vẫn chưa hài lòng

về 2 phương án

Do còn có ý kiến khác nhau và đây

là vấn đề có tác động lớn đối với người

lao động và thị trường lao động, Ủy

ban Thường vụ (UBTV) Quốc hội trình

Quốc hội 2 phương án quy định về tuổi

nghỉ hưu.

Phương án 1 theo Chính phủ trình

quy định tuổi nghỉ hưu của người lao

động trong điều kiện lao động bình

thường được điều chỉnh theo lộ trình cho

đến khi đủ 62 tuổi đối với nam vào năm

2028 và đủ 60 tuổi đối với nữ vào năm

2035. Năm 2021, tuổi nghỉ hưu của

người lao động trong điều kiện lao động

bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với

lao động nam và đủ 55 tuổi 4 tháng đối

với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm

tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam

và 4 tháng đối với lao động nữ.

UBTV Quốc hội cho rằng, phương

án này bảo đảm minh bạch, rõ ràng,

tuân thủ quy định của Hiến pháp về

quyền của “người làm công ăn lương”,

đáp ứng được yêu cầu quy định cụ thể

về lộ trình cho từng năm và xác định

được thời điểm hoàn thành.

Tuy nhiên, việc áp dụng chung cùng

một lộ trình với các nhóm đối tượng

lao động rất khác nhau trong thị trường

lao động rất đa dạng là chưa thực sự

phù hợp với hoàn cảnh, trình độ phát

triển của ngành và nghề lao động Việt

Nam, sẽ có tác động khác nhau và có

thể gây ra sự phức tạp, hệ lụy cần phải

được cơ quan soạn thảo đánh giá kỹ

lưỡng, cẩn trọng, nhất là trong bối cảnh

chưa tạo được sự đồng thuận cao trong

dư luận người lao động.

Phương án 2 mà UBTV Quốc hội

trình Quốc hội xem xét quy định tuổi

nghỉ hưu của người lao động trong điều

kiện lao động bình thường được điều

chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi

đối với nam và đủ 60 tuổi đối với nữ.

Kể từ ngày 1/1/2021, căn cứ theo

ngành nghề, tính chất công việc, môi

trường và điều kiện lao động, địa bàn

và cung, cầu của thị trường lao động,

xu hướng già hóa dân số, Chính phủ

quy định cụ thể lộ trình điều chỉnh tuổi

nghỉ hưu của người lao động.

UBTV Quốc hội đánh giá quy định

theo hướng này bảo đảm tính linh hoạt,

không quy định một lộ trình chung cho

tất cả các nhóm đối tượng lao động có

đặc điểm ngành nghề, điều kiện, môi

trường làm việc rất khác nhau... mà

phải tùy vào từng nhóm lao động cụ thể

để Chính phủ có thời gian khảo sát,

đánh giá kỹ, có bước đi điều chỉnh

nâng tuổi nghỉ hưu phù hợp.

Tuy nhiên, phương án này chưa xác

định thời gian hoàn thành mà giao

Chính phủ quy định, như vậy có thể sẽ

dẫn đến phức tạp, khó khăn hơn khi

thực hiện các quy định nghỉ hưu sớm

hoặc kéo dài đối với các trường hợp

quy định trong luật và người lao động

không xác định được việc mình sẽ nghỉ

hưu vào thời điểm nào.

Giải trình tại phiên họp, Bộ trưởng

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Đào Ngọc Dung cho biết: Về tuổi nghỉ

hưu cho nhóm nghỉ hưu sớm, Bộ đã

tiến hành xác định hơn 1 nghìn 800

ngành, nghề trong lĩnh vực lao động

nặng nhọc và độc hại, với số lượng

khoảng hơn 3 triệu người. Với điều

kiện làm việc như vậy, đây là số người

lao động thuộc nhóm nghỉ hưu sớm có

thể là 10 năm.

n

QUỐCHỘITHẢOLUẬNDỰÁNLUẬTLAOĐỘNG (SỬAĐỔI):

Cònnhiềuýkiếnkhácnhau

vềtănggiờlàmthêmvàtăngtuổinghỉhưu

Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm (đoàn TP.HCM) đã bật khóc khi phát biểu tại hội trường.

ẢNH: T.N