Previous Page  16 / 20 Next Page
Information
Show Menu
Previous Page 16 / 20 Next Page
Page Background

16

SỐ

14

, THỨ NĂM NGÀY

2/4/2020

SỐNG KHỎE

Ths.BSCKIIThànhNgọcMinh

(ảnhnhỏ)

,

TrưởngkhoaTâmthần,BệnhviệnNhi

Trung ương đánh giá: Những khó

khăn trong chẩn đoán rối loạn tự kỷ

khiến cho việc điều trị rối loạn tự kỷ

ngàycàngkhókhăn.

Xin ông đánh giá về thực trạng hội

chứng tự kỷ?

Tỷ lệ trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ có

xu hướng ngày càng tăng trên toàn thế

giới, không phân biệt màu da, sắc tộc.

Trong một nghiên cứu đề tài cấp Quốc

gia: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ

học, phương pháp chẩn đoán và can

thiệp sớm rối loạn tự kỷ (RLTK) ở trẻ

em tại cộng đồng” mà khoa Tâm thần,

BV Nhi Trung ương phối hợp với

Trường ĐH Y tế Công cộng và Khoa

Y Dược - Đại học Quốc gia thực hiện,

đã xác định được tỷ lệ RLTK ở trẻ 18-

30 tháng tuổi tại Việt Nam là 0,758%,

tức là cứ 10.000 trẻ ở nhóm tuổi 18-

30 tháng thì có 75,8 trẻ mắc RLTK. Tỷ

lệ này tương đồng với tỷ lệ RLTK

trung bình trên thế giới (0,76%).

Nguyên nhân và mức độ nguy

hiểm của hội chứng tự kỷ như thế

nào, thưa ông?

Đến thời điểm hiện tại, các nhà

nghiên cứu trên thế giới vẫn chưa xác

định nguyên nhân chính xác của

RLTK, mà chỉ đưa ra những giả thiết

về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

như: gene, môi trường, quá trình mang

thai (trước, trong và sau sinh)…

RLTK ảnh hưởng chủ yếu đến sự phát

triển các kỹ năng sống của trẻ nếu

chẩn đoán muộn và không có sự can

thiệp đúng và sớm, đặc biệt không có

sự quản lý và hỗ trợ tại cộng đồng.

Hiện nay, đối tượng trẻ được chẩn

đoán RLTK ngày càng gia tăng. Mặt

khác, đa số các bậc cha mẹ phát hiện

con mình mắc chứng RLTK khi đã ở

giai đoạn muộn. Ông phân tích về

tình trạng này và có khuyến cáo gì?

Chẩn đoán sớm và can thiệp sớm

RLTK cho trẻ đòi hỏi phải có sự tham

gia của những người chăm sóc và tiếp

xúc sớm nhất với đứa trẻ (đặc biệt là

cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ, giáo

viên mầm non, nhân viên y tế cơ sở).

Việc chẩn đoán tự kỷ hiện nay chủ

yếu dựa vào lâm sàng qua quan sát trực

tiếp hoặc phỏng vấn người chăm sóc,

trong khi các biểu hiện lâm sàng của

RLTK lại rất đa dạng, phức tạp nên

chẩn đoán sớm tự kỷ rất khó khăn. Bên

cạnh đó, quan điểm về tự kỷ còn chưa

thống nhất, công cụ sàng lọc, tiêu chí

chẩn đoán tự kỷ luôn có sự thay đổi...

Do vậy, mặc dù việc chẩn đoán và

can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ là rất quan

trọng, nhưng vấn đề chẩn đoán tự kỷ,

đặc biệt chẩn đoán sớm vẫn là một

thách thức không chỉ ở Việt Nam mà

còn là vấn đề chung của tất cả các nước

do một số lý do như:

Tự kỷ thường không được chẩn đoán

hoặc chẩn đoán không chính xác do các

triệu chứng chưa đủ rõ khi trẻ trước 2

tuổi; hoặc nếu có thì thường rất dễ bị

nhầm lẫn với các rối loạn phát triển khác

hoặc cho là trẻ bị khuyết tật tâm thần do

trẻ tự kỷ có sự chậm trễ ở phần lớn các

kỹ năng; khiếm khuyết ngôn ngữ do các

biểu hiện chậm trễ về ngôn ngữ... Những

trẻ này thường im lặng, không muốn nói

chuyện trong một số hoàn cảnh nhất

định. Trẻ tự kỷ cũng có thể giống với trẻ

có rối loạn gắn bó, trẻ không phát triển

được các mối quan hệ, cảm xúc với cha

mẹ và người chăm sóc do bị bỏ rơi, do

thiếu thốn sự chăm sóc...

Khó khăn trong chẩn đoán tự kỷ

còn do những khiếm khuyết của trẻ

được thể hiện bằng nhiều cách khác

nhau nên khó nhận biết, đồng thời

những hành vi của trẻ trong các môi

trường khác nhau cũng rất khác nhau,

ngoài ra còn do ai là người tiếp xúc,

đánh giá tình trạng của trẻ.

Tại Việt Nam, còn một lý do làm

cho việc chẩn đoán sớm tự kỷ gặp khó

khăn là thiếu sự sẵn có của các dịch vụ

tư vấn phát hiện, chẩn đoán sớm tự kỷ.

Khi các bậc cha mẹ thấy con có những

dấu hiệu bất thường nhưng không được

tư vấn để trẻ được khám, sàng lọc ngay.

Hiện nay cách can thiệp cho trẻ tự

kỷ có những bước phát triển như thế

nào? Ông có lời khuyên gì với cha mẹ

có con có hội chứng tự kỷ?

Quy trình can thiệp sớm trẻ tự kỷ tại

cộng đồng lấy trẻ và gia đình làm trung

tâm, có sự tham gia đa ngành, làm việc

nhóm bởi nhiều chuyên gia khác nhau.

Quy trình bao gồm những hoạt động

nối tiếp nhau, qua 4 bước: Bước 1,

đánh giá phân loại; Bước 2, đào tạo cho

cha mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc

trẻ những kiến thức, kỹ năng can thiệp

sớm tự kỷ tại gia đình; Bước 3, can

thiệp tại các tuyến cơ sở: Hình thức

trung tâm can thiệp sớm, hình thức học

hòa nhập tại trường mầm non kết hợp

can thiệp cá nhân theo giờ, và can thiệp

tại gia đình; Bước 4 là đánh giá định kỳ

sau mỗi khoảng thời gian 3 tháng.

Mô hình quản lý RLTK ở trẻ tại cộng

đồng được xây dựng từ tuyến trung ương

tới cộng đồng với chức năng nhiệm vụ

rõ ràng cho từng tuyến được thí điểm và

đánh giá có tính phù hợp và khả thi...

giúp cho việc phát hiện và xử trí sớm trẻ

nghi ngờ mắc RLTK. Do vậy, cha mẹ

thấy con có biểu hiện nghi ngờ, cần đưa

đến cơ sở y tế để được phát hiện và can

thiệp kịp thời.

Xin cảm ơn ông!

HươNG GIANG

thực hiện

Những cản trở trong chẩn đoán rối loạn tự kỷ

Đêm 30/3, các bác sĩ Khoa Ngoại sản, Bệnh viện Bệnh

nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh (Hà Nội) đã mổ thành

công cho bệnh nhân H.T.N (nam, 16 tuổi, ở Hà Nội) đang

cách ly nghi nhiễm Covid-19 bị viêm ruột thừa. Đây là lần thứ

2 khoa Ngoại sản thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân (BN)

nghi mắc Covid-19 bị viêm ruột thừa tại khu cách cách ly.

Bệnh nhân N và gia đình trong tháng 3 có đến chăm sóc ông

nội điều trị tại khoa Thần kinh, BV Bạch Mai. Sau khi khoa Thần

kinh phát hiện có người mắc Covid-19, cả gia đình BN phải

cách ly tại nhà. Tuy nhiên 3 ngày gần đây BN sốt 37,9 - 38,3

độ C.

Ngày 30/3, BN đau bụng và được gia đình đưa đến BV Y

học cổ truyền Việt Nam, được các bác sĩ chẩn đoán viêm

ruột thừa, sau đó BN được chuyển đến BV Xanh Pôn. Qua

thăm khám BN có yếu tố nghi ngờ mắc Covid-19, BV Xanh

Pôn đã cho chuyển ngay đến khoa ngoại BV Bệnh nhiệt đới

Trung ương cơ sở Đông Anh. Sau khi tiếp nhận ca bệnh, các

bác sĩ khoa Ngoại sản đã hội chẩn ngoại khoa, BN được

chẩn đoán viêm ruột thừa giờ thứ 20 và nghi ngờ nhiễm

Covid-19 và được tiến hành mổ nội soi cắt ruột thừa ngay

trong đêm 30/3.

Là người trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật này, bác sĩ Trần

Thượng Việt, Trưởng khoa Ngoại sản cho biết, với trường

hợp có yếu tố nghi ngờ mắc Covid-19, phải thực hiện trang

phục bảo hộ cũng như mọi thao tác đúng như mổ cho một

BN dương tính với SARS-CoV-2 và tiến hành càng nhanh

càng tốt, vừa đảm bảo cho BN và kíp mổ. “Trong khi thực

hiện phẫu thuật, chúng tôi phải mặc đồ bảo hộ bịt kín, đeo

tấm chắn, vì vậy thời gian thực hiện các thao tác phải rút

ngắn lại, vừa tránh kiệt sức cho kíp mổ vừa tránh cho BN

phải dùng thuốc mê kéo dài”, bác sĩ Trần Thượng Việt chia

sẻ.

Bác sĩ Việt cũng cho biết, may mắn BN được đưa đến sớm,

kịp thời, ca mổ đã thực hiện thành công và chỉ diễn ra trong

vòng 10 phút (rút ngắn được 2/3 thời gian). Hiện, cháu N đã

ổn định sức khỏe. Tuy nhiên, cháu N cần được theo dõi sát

sao thêm.

Với trường hợp có nghi ngờ mắc Covid-19, việc chăm sóc

toàn diện phải nhờ đến đội ngũ điều dưỡng nếu không có

người nhà phục vụ. Từ việc vệ sinh phòng ốc đến công tác

chuyên môn, điều dưỡng phải đảm nhiệm hết. Đây cũng là

sự hy sinh thầm lặng của đội ngũ y bác sĩ nơi tuyến đầu

chống dịch.

Cũng thuộc diện cách ly nên chị N.T.K.T (mẹ bệnh nhân N)

được vào chăm con ở phòng riêng biệt. Nhìn con thiêm thiếp

ngủ khi vừa được các bác sĩ cấp cứu kịp thời, chị T xúc động

bày tỏ: “Dù tôi được vào phòng chăm con nhưng mọi việc

giao tiếp bên ngoài hết sức hạn chế, nên mọi nhu yếu phẩm

mẹ con tôi vẫn phải nhờ đến đội ngũ điều dưỡng. Giờ nhìn

con tỉnh táo thế này, gia đình tôi chỉ biết nói lời cảm ơn sâu

sắc tới các y bác sĩ nơi đây”.

LưU HườNG

Mổcấpcứuviêmruột thừachothiếuniên16tuổinghimắcCovid-19

Mẹ con chị N.T.K.T tại phòng hậu phẫu.

Một giờ can thiệp cho trẻ tự kỷ tại khoa Tâm thần, BV Nhi Trung ương.

ẢNH: H.G