Previous Page  4 / 20 Next Page
Information
Show Menu
Previous Page 4 / 20 Next Page
Page Background

4

SỐ

14

, THỨ NĂM NGÀY

2/4/2020

PHÓNG SỰ

n

NAM HươNG - Vũ LợI

Hơn30nămtheonghiệpđisăn“thủy

quái”trêndòngsôngĐàcủavợchồng

chị Huyền, anh Hà chỉ kết gọn ở hai

chữ“may rủi”, thậmchí đánh cược cả

mạng sống để mưu sinh trên dòng

sôngđầyhiểmnguy.

Ký ứcmưu sinh

Nghề lênh đênh sông nước, săn tìm

những loài “cá chúa tể” đã vận vào vợ

chồng anh Hà, chị Huyền như một lẽ tự

nhiên. Trong đêm tối mịt mù, những

chuyến ra khơi của 2 vợ chồng anh chị

ngày một dày lên nhưng thành quả thu

về thì “ngày được, ngày không”...

Khoát tay chỉ về vùng tụ thủy của 3

dòng chảy là sông Đà, sông Nậm Na và

suối Nậm Lay, chị Lê Thị Huyền, một

trong những thợ săn “thủy quái” có tiếng

của thị xã “ngã 3 sông” - Mường Lay,

tỉnh Điện Biên chậm rãi kể cho chúng tôi

những lần chị bắt được “thủy quái”:

“Mấy chục năm lênh đênh sông nước,

việc bắt được những con cá măng, cá mè

nặng cả chục cân là chuyện rất bình

thường. Nhưng số lần bắt được cá lăng,

cá chiên khủng hàng chục cân thì chỉ

đếm được trên đầu ngón tay. Con cá

chiên lớn nhất mình từng bắt được nặng

ngót nghét 50kg và phải rất vất vả, ngụp

lặn “đánh vật” hơn 3 tiếng đồng hồ cùng

sự giúp sức của các bạn chài mới đưa

được nó lên thuyền. Đầu nó nham nhở

như một khúc gỗ mục, toàn thân trơn

nhẵn, màu sắc loang lổ kỳ dị. Nó quẫy

mạnh đến nỗi khiến chiếc thuyền chao

đảo, suýt lật nhào xuống lòng sông nên

đành phải dùng lao nhọn đâm ngập đầu

mới mang được về...”.

Nghề săn “thủy quái” ở vùng sông

nước này có từ rất lâu, khi sông Đà vẫn

còn chưa bị sẻ núi, ngăn đập làm thủy

điện. Lúc đó, những ngư phủ vừa phải

chèo chống với thác ghềnh, vừa phải

đánh vật với những con cá lăng, cá

chiên lớn cả tạ bằng lao, lưới thô sơ.

Bởi vậy, nghề săn “thủy quái” trên

sông Đà vẫn luôn được coi là nghề

nguy hiểm và chỉ dành cho những ai

“to gan, lớn mật”. Nguy hiểm là vậy,

song đối với nhiều người, hay ngay cả

chị Huyền, đi săn tìm loài “cá chúa tể”

hung dữ không chỉ là cái nghiệp nhiều

đời truyền lại của gia đình, mà đó còn

là cái thú để thỏa mãn đam mê chinh

phục sông nước của bản thân.

Chị Huyền chia sẻ kinh nghiệm để

săn được “thủy quái”: Cá lăng, cá chiên

cực kỳ dữ dằn và hung ác nên để săn

được loài cá này, ngoài sức khỏe thì

người đi săn còn phải biết dùng mưu và

phải thật am hiểu về sông nước. Do bị

săn bắt ráo riết, cộng với việc lòng hồ

sông Đà tích nước đến cả chục mét nên

hiện nay ở các khúc sông Đà trên địa

phận thị xã Mường Lay gần như không

còn sự xuất hiện của những loài cá này

nữa. Giờ muốn bắt được cá khủng phải

đi thuyền ngược sông cả chục cây số lên

khu vực Nậm Nhùn (tỉnh Lai Châu)

hoặc có khi xuôi thuyền xuống tận

Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La). Thời gian dễ

đánh bắt được cá vào khoảng từ tháng 3

đến tháng 5, khi mưa xuống mang theo

nguồn thức ăn dồi dào, cá nổi lên ăn

nhiều. Thời điểm đó, hai vợ chồng chị

Huyền đành gửi con lại cho ông bà để

lênh đênh sông nước, đi xuyên tận 2

tháng cùng bạn chài đánh cá.

“Để bắt được cá khổng lồ, dụng cụ

đánh bắt cũng phải “khủng”. Những tấm

lưới phải là loại đặc biệt với nhiều lớp

bện chắc vào nhau. Như bộ lưới vợ

chồng tôi đang sử dụng có chiều cao đến

6m, dài hơn 300m, nặng gần 1 tấn và

đầu tư cũng tốn đến 50 triệu đồng”, chị

Huyền kể.

Ngoài phương pháp rải lưới, thợ săn

“thủy quái” đều giữ riêng cho mình một

“bảo bối” là những chùm lưỡi câu “quái

vật”. Những lưỡi câu dài chục cm, to

bằng nan hoa xe đạp, vô cùng sắc lẹm,

cứng, chắc đủ sức ngoạm chặt vào

miệng và thân những con cá lớn. Chiều

dài dây câu lên tới cả chục mét với hơn

300 trăm lưỡi câu.

Tìm hướng đi mới

Săn “thủy quái” trên sông Đà quả là

nghề may rủi bởi độ nguy hiểm cũng

như sự khan hiếm của các loài cá lăng,

cá chiên. Những người có máu mạo

hiểm như chị Huyền, anh Hà theo thời

gian cũng không còn đủ sức để bám trụ

với nghề. Còn với những người từng

chót “ăn đời ở kiếp” bên dòng Đà giang

thì tìm hướng đi mới để cuộc sống sôi

động hơn. Kể từ khi 3 nhà máy thủy

điện Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu được

khởi công xây dựng đã biến dòng sông

đầy ghềnh thác hiểm trở thành mặt hồ

rộng gần 600km

2

. Đây là điều kiện to

lớn cho người dân đôi bờ sông Đà phát

triển thủy sản và đánh thức tiềm năng

du lịch.

Cuối năm 2012, công trình Thủy

điện Sơn La hoàn thành, kể từ đó mực

nước lòng hồ thị xã Mường Lay đã

dâng cao 213m, diện tích rộng 100ha.

Thị xã vì thế có đến 6 tháng mùa nước

nổi, kéo dài từ tháng 8 năm trước đến

tháng 3 năm sau. Đến Mường Lay vào

mùa nước nổi mới cảm nhận rõ nhịp

sống sôi động nơi đây. Sáng sớm ngư

dân chèo thuyền thả lưới, đặt rọ tôm

lúc hoàng hôn và thu hoạch lúc trời

rạng sáng để kịp phiên chợ sớm.

Những đoàn khách du lịch cộng đồng,

khám phá sông nước Đà giang ngày

càng tấp nập, tạo điều kiện cho các bản

văn hóa phát triển, hấp dẫn với các hoạt

động phục vụ du khách.

Tiếp tục xuôi thuyền và dừng chân

bên khu tái định cư bản Huổi Lóng, xã

Huổi Só, huyện Tủa Chùa (tỉnh Điện

Biên), ấn tượng đầu tiên hiện ra là đoạn

sông Đà dài hơn 30km, nước ngập

mênh mông một màu xanh biếc. Ít ai

ngờ rằng, dưới độ sâu hàng chục mét

nước này, trước kia là bản làng quần tụ

của bà con người dân tộc Dao… Vì

dòng điện ngày mai của Tổ quốc, họ đã

di vén, rời xa mảnh đất dày công khai

hoang để đến các điểm tái định cư mới,

nhường lại đất đai, ruộng vườn cho

sông Đà dâng ngập.

Nhiều người dân chia sẻ, từ khi sông

Đà tích nước đã mang đến sinh kế mới

từ nguồn tôm, cá dồi dào. Người dân

trong xã đi các tỉnh Sơn La, Lai Châu và

ngược lại cũng dễ dàng khi lợi thế

đường thuỷ được phát huy. Nhiều gia

đình nắm bắt cơ hội, chung nhau đầu tư

vó bè cỡ lớn để đánh bắt thủy sản, đóng

xuồng vận chuyển hàng hóa. Từ đó,

Huổi Lóng trở nên sầm uất và là cơ hội

cho hơn 100 hộ tái định cư phát triển

kinh tế thuỷ sản, khai thác đường sông,

trao đổi, mua bán hàng hoá…

Vừ A So - một thanh niên năng

động, dám nghĩ dám làm và tiên phong

trong xã Huổi Só đã quyết tâm làm mô

hình nuôi cá lồng lòng hồ thủy điện.

Sinh ra và lớn lên ở vùng sông nước,

So thừa hiểu cuộc sống sẽ rất bấp bênh

nếu an phận “ăn sổi ở thì” với dòng

sông quê hương, trong khi điều kiện

mặt nước quá dồi dào để phát triển

nghề nuôi cá lồng. Bởi vậy, So quyết

tâm khởi nghiệp dù bước đầu rất khó

khăn, vốn liếng trong tay chỉ vỏn vẹn

3 con trâu và 10 con lợn.

Tôi hỏi sao tự tin khởi nghiệp vậy?

So trả lời bằng giọng từ tốn: Khi đưa

ra ý tưởng nuôi cá lồng thì So đang là

Bí thư chi đoàn thôn Hồng Ngài, xã

Huổi Só. Vì không muốn thanh niên

phải rời quê đi làm ăn xa nên So mạnh

dạn vận động các đoàn viên ở lại tham

gia nuôi cá lồng. Nhưng trong vùng

chưa có ai làm thế bao giờ nên họ còn

hoài nghi. Bản thân So từng được tham

dự lớp tập huấn ở huyện về phát triển

thủy sản, đồng thời cũng nghiền ngẫm

nhiều tài liệu, tìm hiểu nhiều thông tin

về nuôi cá lồng trên mạng internet nên

anh càng thêm quyết tâm. Bán hết trâu,

lợn, vay thêm ngân hàng chính sách,

anh em họ tộc, So có hơn 200 triệu

đồng để làm bè, mua cá giống thả lồng

trên sông Ðà. Cuối cùng 14 ô bè bên

trong thả các loại cá: lăng, trê, trắm,

chép, rô phi lần đầu đã xuất hiện ở xã

vùng cao Huổi Só. Năm 2016, So khai

thác bán mẻ cá đầu tiên, thu về hơn 1

tạ cá. Sau đó, So tập trung đầu tư nuôi

cá lăng sông Ðà cho giá trị cao. Học

cách làm kinh tế của So, đến nay, xã

Huổi Só đã có thêm 4 hộ khác nuôi cá

lồng, với tổng số lượng lên đến 28 lồng

cá, mỗi năm xuất bán ước tính lên đến

2.700kg thành phẩm, bình quân mỗi hộ

thu về trên 50 triệu đồng/hộ/năm.

Mặt trời ngả bóng, bến Huổi Lóng,

xã Huổi Só lại nhộn nhịp. Hàng chục

chiếc xuồng nằm gối bãi, dập dềnh

theo sóng nước. Thanh niên trai tráng

lại tất bật cho chuyến đánh bắt thuỷ sản

dài ngày, nhiều phụ nữ cặm cụi với

công việc vá lưới. Trên bờ trẻ con nô

đùa, tiếng cười vang khắp bến sông.

Nhiều chiếc xuồng chở sắn, ngô cũng

vừa cập bến…

Tiếp chúng tôi trong căn nhà sàn

rộng rãi, đầy đủ những vật dụng sinh

hoạt đắt tiền, chủ nhà Lý A Hi (bản

Huổi Lóng) hồ hởi khoe: “Về bản tái

định cư, được Nhà nước hỗ trợ tiền,

cho nhà ở nên cuộc sống của gia đình

đã khá hơn nhiều. Tôi đã có tiền mua

xuồng sắt đánh bắt tôm, cá trên sông,

kinh tế gia đình cũng ổn định và có thu

nhập đều hơn so với trước kia”.

Trên hành trình khám phá Đà giang,

chúng tôi chứng kiến những bản làng

vùng cao đổi thay, cuộc sống ngày càng

ấm no, hạnh phúc. Ánh điện từ dòng

sông Đà tạo ra dần xua đi những tăm tối

nơi đại ngàn thăm thẳm… Tất cả cho

thấy mọi thứ đang chuyển mình kỳ diệu

bên một dòng sông huyền thoại!.

n

Lênh đênh săn tìm những loài “cá chúa tể” tới đây chỉ còn trong ký ức.

cùngdòng

Đàgiang